/* Adsense */ Đông Phương Lý Số: Vô Chính Diệu tại Tỵ
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vô Chính Diệu tại Tỵ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vô Chính Diệu tại Tỵ. Hiển thị tất cả bài đăng

KHHB 23. Lá số cuộc đời nữ nghệ sĩ Kim Cương

LÁ SỐ VÀ CUỘC ĐỜI NỮ NGHỆ SĨ KIM CƯƠNG


Sinh năm: Bính Tý,
Ngày 13, tháng Chạp, giờ Thân
Dương nữ, Thủy Mệnh, Thủy Nhị Cục

Luận đoán của LÊ THÀNH THÁI




Khái luận về Mệnh, Thân và Cục

Mệnh vô chính diệu đắc Tam Không, ngộ Lộc Tồn, Khôi, Việt và Đào, Hỉ hội Quang, Quí, Thiên-Nguyệt Đức, Thiên Quan quý nhân.

Lộc Tồn, Nguyệt Đức ngộ Khôi, Việt, Đào, Hỉ tạo Kim Cương một nét duyên dáng hiền dịu pha một chút lẵng ngầm (do Đào Hỉ tạo ra) đã giúp Kim Cương thu hút được nhiều cảm tình của khán thính giả lâu dài, dù đã đôi ba lần nàng tạm xa sân khấu (nhờ Lộc Tồn ngộ Khôi, Việt). Mệnh vô chính diệu đắc Tam Không ngộ Khôi, Việt, Quang, Quí khiến nên Kim Cương chẳng những sớm thông minh mà còn được bẩm tính thiên phú tháo vát trong mọi lĩnh vực nhất là địa hạt họat động nghệ thuật, sớm thành công và giữ được lâu dài.

Thủy Mệnh lập tại cung Tị thuộc Hỏa, nhờ có Triệt và Mệnh Vô chính diệu, lại thêm tuổi Bính lập mệnh tại cung Bính, Lộc Tồn thuộc thổ đới Thủy dung hòa với Thủy Mệnh, cho nên đỡ khắc kỵ. Tuy nhiên, tuổi trẻ vẫn bị long đong về gia cảnh, phải sớm chịu mồ côi, phải chứng kiến nhiều sự gian nan của cha mẹ lúc tuổi thơ ấu.

Kim Cương thành công về danh vọng và tiền bạc cũng sung mãn là ảnh hưởng của Lộc Tồn ngộ Khôi, Việt, nhưng lận đận tình duyên, hôn nhân phải muộn màng vì Lộc Tồn ngộ Kỵ và cung Phu bị Hồng Loan ngộ Kiếp, Không, Kỵ, Sát.

Thân cư Quan tại Dậy thuộc Kim sinh phò cho Thủy Mệnh, có chính tinh Thiên Phủ lạc hãm ngộ Tuần, hội Đào, Hồng, Hỉ phùng Thiên-Nguyệt Đức, Quang, Quí, Tướng, Ấn thành thử Kim Cương chẳng những sớm thành công trên lĩnh vực kịch nghệ, điện ảnh mà còn giữ vai trò chủ yếu trong ban kịch Kim Cương, và công ty điện ảnh Kim Cương.


Nhìn qua những cung nổi bật
Cung Tài Bạch: Lập tại Sửu, có Tướng Ấn Quang Quý hội Lộc Tồn, Thiên Phủ phùng Thiên-Nguyệt Đức, là sớm làm ra tiền và gặp nhiều may mắn trong vấn đề tiền bạc. Tuy nhiên. Tuy nhiên, vì Không, Kiếp và Thiên Giải hội ciếu, cho nên Kim Cương tiền vào nhiều mà ra cũng không ít, chỉ có mua sắm bất động sản mới giữ được.

Cung Phụ Mẫu: Lập tại Ngọ có Cự Cơ miếu vượng hội Khoa, Quyền, Lộc, Xương, Khúc, Mã, Khốc, Khách, phùng Đồng, Lương, Tuế, Tấu là những bộ sao nổi tiếng đã tạo dựng một truyền thống căn bản kịch nghệ cho Kim Cương tiếp nối cảm tình tốt đẹp với khán thính giả về sau.


Những tiểu hạn đã giúp Kim Cương bước lên nấc thang danh vọng

Tiểu hạn Giáp Ngọ (1954), 19 tuổi. Hạn vào cung Huynh đệ trùng phùng với gốc đại hạn 12-21, lưu đại hạn vào cung Phụ Mẫu. Tiểu hạn có Long, Phương, Cái Hổ, phùng Nhật Nguyệt tịnh minh, Sinh, Vượng, Tấu, Tuế, Hỉ; lưu đại hạn có Cơ Quyền, Xương, khúc, Khoa, Lộc, Mã, Khốc, Khách là những bộ sao giúp Kim Cương nổi tiếng; giữa năm này, nhân dịp nghỉ hè, Kim Cương theo đóan hát của bà Năm Phỉ và mẹ Bảy Nam, nhân một dịp hi hữu, Kim Cương xuất hiện trong một bản tân nhạc được khán thính giả nhiệt liệt hoan nghênh, và sau đó Kim Cương được sọan giả Duy Lân đặc biệt chú ý nâng đỡ, sọan riêng vở tuồng Giai nhân và Ác quỷ, theo kiểu đo ni đóng giày, để Kim Cương thủ diễn vai chính, nhờ đó, Kim Cương được giới mộ điệu khắp miền Nam tán thưởng nồng nhiệt. Vào cuối năm, bà Năm Phỉ giám đốc đòan hát qua đời, Kim Cương phải đứng rat hay thế chống đỡ bảnh hiệu của đòan hát, từ đó Kim Cương thực thụ trước bạ tên tuổi vào làng cải lương với bảng hiệu Năm Phỉ, Kim Cương mở đầu cho sự nghiệp làm bầu gánh, và liên tiếp nắm giữ vai trò chủ yếu ban thọai kịch Kim Cương, rồi giám đốc công ty điện ảnh Kim Cương hiện nay.

Tiểu hạn năm Giáp Thìn (1964), hạn đến cung Phụ Mẫu, gốc đại hạn đổi đến cung Phu Quân, lưu đại hạn vào Mệnh. Hai hạn hội đủ Khoa, Quyền, Lộc, Tả, Hữu, Xương, Khúc, Mã, Khốc, Khách, Thai, Tọa, Hồng, Đào, Hỉ và Quan, Phúc, Quang, Quí, Thiên-Nguyệt Đức, Kim Cương được dịp xuất ngọai du học về ngành kịch nghệ ở Pháp.

Tiểu hạn năm Kỷ Dậu (1969) hạn đến cung Tài Bạch, gốc đại hạn đã đổi vào Tử Tức, có Đồng Lương, phùng Khoa, Quyền, Lộc, Mã, Khốc, Khách; Tiểu hạn có Quang, Quí, Tướng, Ấn hội Lộc, Hỉ, Đào, Thiên, Nguyệt Đức, Kim Cương thành lập công ty điện ảnh và khởi quay phim Biển Động, phim này giúp Kim Cương thành công về nghệ thuật lẫn tài chính.

Tiểu hạn năm Quý Sửu (1973) hạn đến cung Quan Lộc trực diện cung Phu Quân, lưu đại hạn đi vào Mệnh. Năm này hội đủ Hồng, Đào, Hỉ, Thiên, Nguyệt Đức gốc Đại hạn có Khoa, Quyền, Lộc phùng Mã, Khốc, Khách, Cơ, Hỉ: Kim Cương tác hợp hôn nhân vào giữa năm.


Luận đóan tương lai Kim Cương trong năm Giáp Dần (1974)

Tiểu hạn năm Giáp Dần đi vào cung Điền Trạch, trực diện với gốc đại hạn ở cung Tử Tức, lưu đại hạn vào cung Huynh đệ.

Tháng Giêng hao tài và coi chừng tiểu nhân xen vào làm sứt mẻ tình cảm trong gia đình. Có dịp đi xa tốt, nhưng đang bị trở ngại nhỏ.

Tháng 2, cơ hội thuận lợi cho công việc làm ăn, đi xa rất tốt. Tháng 3, tình cảm gia đình và giữa vợ chồng đang làm bận tâm.

Tháng 4, tiến triển tốt đẹp trong lĩnh vực nghệ thuật và công việc làm ăn.

Tháng 5 có quí nhân nâng đỡ, mặt khác cẩn thận đề phòng tiểu nhân đố kỵ tài năng.

Tháng 6 tốt trong lĩnh vực nghệ thuật, tiền bạc dồi dào.

Tháng 7, một vài điều hiểu lầm sinh ra bất đồng ý kiến trong hạnh phúc vợ chồng và khổ tâm.

Tháng 8, cố giàn xếp, kẻo đổ vỡ hạnh phúc vì tiểu nhân xen vào.

Tháng 9, gặt hái nhiều kết quả khả quan trong lĩnh vực nghệ thuật.

Tháng 10, tiếp tục tốt đẹp ở lĩnh vực nghệ thuật và tiền bạc. Đi xa rất tốt.

Tháng 11, nhẫn nại để giữ hạnh phúc.

Tháng Chạp, đề phòng một vụ scandale, kiên nhẫn để hạnh phúc gia đình được bền vững.

Một cái Tết không được thỏai mái.


Saigon tháng Chạp, Quý Sửu (1973)
LÊ THÀNH THÁI


Read more: http://tuvilyso.org/forum/topic/23802-25-la-so-va-cuoc-doi-nu-nghe-si-kim-cuong-khhb-so-74-c-1/#ixzz3g18Aa96W 

KHHB 7. Lá số tử vi của người hùng không quân TRẦN THẾ VINH

Lá số tử vi của người hùng không quân TRẦN THẾ VINH
Tuổi trong giấy khai sinh: 1946 (Bính Tuất)
Tuổi thật: Năm Mậu Tý, tháng 2, ngày mồng 6, giờ Tuất




Mệnh có lộc tồn phùng xung phá, cát dã thành hung. Mệnh vô chính diệu, giáp kình đà hội không kiếp không có cát tinh hóa giải, đến đại hạn đế ngộ hung đồ (Tử, Sát, Phá, Tham, Liêm, ở mùi) tại Phúc cung, tất phải yểu vong. Mệnh cư tỵ, có hữu bật, Thiên tướng lai triều: được hưởng Phú quý nhưng không bền.

Bài giải đoán lá số tử vi của Đại úy không quân Trần Thế Vinh
Chúng tôi được nghe một độc giả sau khi đọc mục thời sự và số mạng trong tuần báo khoa học huyền bí số 1 nói cho biết là đại úy không quân Trần Thế Vinh không phải tuổi Bính Tuất mà đúng ra là tuổi Mậu tý.
Theo lời chỉ dẫn của bạn này (vốn là bạn học của Trần Thế Vinh chúng tôi tìm lên Thủ Đức, vào ấp Tam Châu, xã Tam Bình, xứ Tam Hà. Nhà bà cụ thân mẫu của Trần Thế Vinh cách nhà thờ Tam hà chừng 300 thước. Vinh còn một người anh trai đang sống với bà cụ và chính người anh này mới là tuổi Bính tuất (1946).
Lúc chúng tôi đến nhà, bà cụ đi nhà thờ với đứa cháu nội, con của Vinh, do người nhân tình của Vinh ở Biên Hòa, nghe tin Vinh tử trận, dắt đứa con gái nhỏ lên 3, trả về cho bà nội nó. Hằng ngày hai bà cháu đều đi nhà thờ cầu nguyện cho bố nó. Theo lời người anh của Vinh kể lại gia đình này được tin Trần Thế Vinh, sau khi trúng đạn phòng không của địch, một cánh phi cơ bốc cháy Vinh liền cho phi cơ quần lại mục tiêu thả nốt 2 quả bom, rồi Vinh nhảy dù thoát khỏi trước khi phi cơ nổ tan. Hiện nay chưa biết Vinh còn thất lạc trong rừng sâu vùng Đông Hà, hay là đã bị địch bắt. Gia đình hằng ngày vẫn cầu nguyện cho Trần Thế Vinh sớm thoát khỏi sự dữ, được trở về vùng tự do với gia đình.
Khi chúng tôi hỏi ngày và năm sinh của Trần Thế Vinh người anh ngập ngừng giây lát rồi cho biết chẳng phải gia đình muốn giấu, nhưng mấy hôm nay không ai hỏi đến ngày giờ năm sinh âm lịch cho nên khi được hỏi, gia đình chỉ nói năm sinh dương lịch là năm 1946 (Bính Tuất) mà lúc ông cụ thân sinh còn sống đã khai sinh cho hai anh em cùng một năm. Thực ra Trần Thế Vinh sanh năm 1948 tức năm mậu tý tháng 2, ngày mùng 6 giờ Tuất. Và dưới đây là giải đoán khái quát về lá số tử vi của Trần Thế Vinh.
Dương Nam, Hỏa mệnh (Lửa sấm sét) Thổ ngũ cục, mệnh viên đóng tại cung Tỵ, âm hỏa, thuộc tốn, Nam đông nam. Mệnh và cục tương sinh, Mệnh VCD đắc nhị không (Thiên, địa không ở tài bạch hợp chiếu), có Lộc tồn tọa thủ, hội với Khôi, Khoa, Lộc, Tả phù, Hữu bật cư chiếu. Do đó tuổi này lúc nhỏ rất thông minh, học hành dễ đỗ đạt. Nhất là đại hạn 5 – 14 tuổi tại Mệnh cung có Thiên tướng, Thiên Phủ lai triều (Tướng ở tài, Phủ ở quan) thì học một biết hai, thi đâu đỗ đó. Tiếp đến gặp đại hạn 15-24 tuổi ở cung phụ mẫu có Tuần không án ngữ là tốt, điều rất hợp mệnh vô chính diệu cần gặp Tuần, Triệt án ngữ. Tuổi này Dương nam cho nên ảnh hưởng của Tuần rất mạnh ở cung Ngọ vì đó là dương hỏa. Tại đây lại gặp bộ sao Khốc, Hư đắc địa tọa thủ, giao huy với Khúc, Xương, Tấu thư, Điếu khách, Hóa quyền, Phượng các, Thiên quý, Hỏa tinh: Hợp vào bộ chính tinh Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương cư chiếu, đã giúp cho tuổi này nhẹ bước công danh. Tuy rằng trong mười năm này (từ 15 đến 24 tuổi) đương sự cũng gặp nhiều sự hiểm nguy, nhưng nhờ có Tuần không hóa giải.
Luận đoán tiểu hạn năm Nhâm tý (1972) trong lá số Trần Thế Vinh
Năm Nhân tý tiểu hạn đến nô cung đóng ở cung tuất cũng là địa võng cung có Thiên thương nhập nội. Năm này hội đủ các hung tinh tác họa như: Khốc hư, tang điếu kình đà hình kỵ ở các cung phụ mẫu huynh đệ tử tức xâm nhiễu, các sao giải chỉ có Quang quý và Giải thần, còn riêng Hóa quyền, chẳng những không hóa giải mà lại còn trợ lực cho các hung tinh gieo họa khủng khiếp và nhanh chóng.
Thường xem tử vi, thấy những năm tiểu hạn gặp nhiều hung tinh tác họa, thì phải xem cung mệnh, cung phúc và nhất là xem kỹ gốc của đại hạn có nhiều cát tinh hóa giải không? Năm này, đại hạn vừa chuyển sang Phúc đức đóng tại Mùi cung, thuộc Âm thổ. Vì tuổi Mậu tý thuộc Dương nam cho nên Tuần không tuy án ngữ ở đây, nhưng tinh lực chỉ dồn sang cung Ngọ là dương cung, do đó, Tuần ở đây không cần được sự tác họa của Thiên Địa không ở tài bạch chính chiếu. Và đại hạn nầy còn được gọi là Đế ngộ hung đồ nghĩa là Tử vi tinh gặp toàn bộ Sát, Phá, Liêm, Tham và Phi liêm, Phục binh, Trực phù tam phương xâm nhiễu tác họa. Cát tinh giải trừ tai họa ở đây chỉ có bộ Quan, Phúc quý nhân vì ở địa vị bàng chiếu nên tinh lực giao huy yếu kém, còn Long đức chỉ giải trừ những tai họa nhỏ. Bộ Khôi Việt thì Triệt đã ngăn mất ảnh hưởng của Khôi, còn lại có Việt mà Việt gặp Phi liêm hợp chiếu, lại tạo nên mũi tên hòn đạn gieo tai họa kinh khủng hơn nữa.
Cung Phúc đức và Đại hạn gặp toàn những sao tác họa như thế, mà Mệnh viên cũng gặp toàn là những bộ hung tinh như: lộc tồn ngộ Phá toái, kiếp sát, Tử phù nhập nội ngoại chiếu có Hữu bật, Liêm trinh và Kiếp, Không, lại thêm Trực phù, Bệnh phù, Phi liêm, Thiên không là những sao cùng hung cực ác chuyển giao tai họa thảm khốc được bộ tả hữu bật trợ lực tác họa, vì bộ sao này gặp thình thì tôn phù cũng đắc lực, gặp suy cũng tác họa khủng khiếp.
Một điều tối kỵ cho tuổi Mậu tý là mệnh giáp Kình Đà hội Không kiếp thế mà bên trong không có phúc tinh hóa giải, tam phương hội họp toàn những hung tinh cực ác, đại hạn lại đi vào phúc đức cung, gặp đế ngộ hung đồ.
Tóm lại, nhìn chung lá số tuổi Mậu tý, năm Nhâm tý này đại hạn bắt đầu vào Phúc đức gặp đế ngộ hung đồ và Thiên, Địa không xâm nhiễu. Tiểu hạn đi vào Nô bộc ở La Võng hội Kình Đà HÌnh Kỵ, Tang Điếu Khốc Hư. Thêm vào đó tháng 2 âm lịch nguyệt hạn đến cung Điền trạch lại có đủ song hao, Tang Hổ Tuế, Đà và Quan phủ, Thiên sứ vây hãm. Làm sao thoát khỏi tử thần.
Luận về lẽ huyền nhiệm của tử vi qua lá số của Trần Thế Vinh
Trường hợp cụ thân sinh mất trước: Nhật Nguyệt tịnh minh sinh ban đêm (giờ Tuất) cha mất trước rất đúng gia cảnh hiện nay.
Trường hợp không cưới hỏi mà có vợ có con:
Thê thiếp có hồng đào tướng phục và Vũ khúc hữu bật Thiên hỉ là gian díu với nhau có con rồi thành vợ chồng. Nếu không có Hóa khoa thiên phù và thiên giải thiên quan Thiên phúc cư chiếu ở đây thì bộ sao Thất sát Tướng quân phục binh Tham lang địa kiếp hồng đào thì tuổi này sẽ bị vào tù vì tội hiếp dâm.
Trường hợp ngày anh dũng đền nợ nước của Trần Thế Vinh:
Hôm đó là 26 tháng 2 âm lịch, nguyệt hạn vào cung Điền trạch, nhập hạn đến Quan lộc cung. Ngày này cũng hội đủ các hung tinh như: Lưỡng không (Thiên, Địa không), lưỡng Sát (Thất sát, Kiếp sát), phục binh, Địa kiếp, Phá toái, Tử phù hội Suy Tử Tuyệt là các ác tinh gia tăng tai họa thần tốc. Sở dĩ Trần Thế Vinh không chung số phận với các chiến sĩ vô danh khác là vì nhật hạn hôm ấy có các sao: Khoa, Khôi, Tả, Hữu, Tướng, Ấn và Hồng, Đào, Thiên hỉ mà sự anh dũng đền nợ nước được loan truyền khắp nơi. Đó cũng là nhờ Tử vi gặp Long đức, Thanh long ở cung Phúc đức vậy.

Thiên Cơ
KHHB số 3 

 
Design by Đông Phương Lý Số | Bloggerized by dongphuonglyso.com - Broadcast Real Information | Đông Phương Lý Số